Làm gì để ngành chè phát triển bền vững?

30/03/2016

Với mục đích quảng bá hình ảnh, sản phẩm chè Việt Nam tới các nhà nhập khẩu nước ngoài nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế và hợp tác đầu tư phát triển sản xuất, chế biến, thương mại …, đồng thời góp phần làm tăng giá trị gia tăng cho sản phẩm chè Việt Nam, ngày 8/10/2013 Hiệp hội Chè Việt Nam tổ chức Hội nghị quốc tế chè 2013 với chủ đề “Giải pháp phát triển chè bền vững” tại Hà Nội.

Giá chè xuất khẩu rất thấp

Mặc dù Việt Nam có truyền thống trồng chè lâu đời nhưng hiện năng suất chè vẫn thấp, chất lượng chè chưa cao, kỹ thuật canh tác lạc hậu, người dân còn lạm dụng thuốc trừ sâu và chưa tự giác tuân thủ các quy chuẩn trong quá trình canh tác.

Phát biểu tại hội nghị, Bà Nguyễn Thị Ánh Hồng – Tổng thư ký Hiệp hội Chè Việt Nam (VITAS) cho biết: Trong những năm gần đây, vấn đề khá nan giải của ngành chè Việt vẫn là chất lượng sản phẩm chưa cao, giá trị xuất khẩu thấp. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên do, trước hết là vấn đề nguồn nguyên liệu.

Tính từ đầu năm đến nay, sản lượng nguyên liệu chè đã giảm khoảng 20% so với cùng kỳ năm 2012. Diện tích trồng chè tự phát trong dân tăng lên nhưng không có con số thống kê cụ thể, dẫn tới việc khó quy hoạch và lập kế hoạch phát triển nguồn nguyên liệu chè. Thêm vào đó, tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình trồng chè còn khá phổ biến, khiến cho chất lượng nguyên liệu chè thiếu đảm bảo.

Theo bà Hồng, hiện nay, công suất chế biến của các nhà máy trên cả nước đang gấp đôi sản lượng nguyên liệu. Số lượng cơ sở sản xuất nhỏ lẻ tiếp tục tăng. Trong khi đó, việc kiểm tra tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và các quy định trong nhà máy trung bình và lớn tiến hành đều đặn nhưng chưa áp dụng cho các cơ sở nhỏ lẻ. Những điều này cũng gây ảnh hưởng nhất định tới chất lượng chè Việt.

Bà Hồng nhấn mạnh, đáng đề cập hơn cả là trong xuất khẩu chè, hiện nay có tới 265 đơn vị đầu mối xuất khẩu chè, trong khi thị trường xuất khẩu lại giảm sút. Cụ thể, hiện chỉ còn khoảng 61 thị trường xuất khẩu, so với khoảng 77 thị trường trước kia. Việc có quá nhiều khâu trung gian trong quá trình kinh doanh, thương mại chè cũng đã tác động rất lớn, làm giảm chuỗi giá trị chè.

Còn ông Đoàn Xuân Hòa – Phó Cục trưởng Cục Chế biến, Thương mại Nông lâm thủy sản và Nghề muối (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) cũng cho rằng, việc cấp phép kinh doanh chè đang diễn ra tràn lan nên số lượng nhà máy chè mọc lên như nấm với 455 nhà máy và hơn 200 đầu mối xuất khẩu, mỗi cơ sở chỉ xuất khẩu được 500 tấn/năm. Điều này đi ngược với xu thế sản xuất công nghiệp tập trung.

Tuy Việt Nam nằm trong top 05 nước sản xuất chè lớn nhất thế giới và cũng đứng thứ 5 thế giới về xuất khẩu chè nhưng giá xuất khẩu chè của ta lại thấp nhất thế giới do chất lượng chè của ta chưa cao. Ông Đoàn Xuân Hòa cho rằng, ngành chè vẫn là một trong 10 ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Hiện nay chè được trồng ở 34 tỉnh thành cả nước với diện tích khoảng 125.000 ha, thu hút khoảng 3 triệu lao động tham gia. Tuy nhiên, giá trị của ngành chè còn thấp, chỉ đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 200 triệu USD/năm, một con số rất khiêm tốn so với xuất khẩu hồ tiêu.

“Cơ chế của ngành chè hiện nay đang phát triển theo hướng ta làm cái ta có thay vì làm cái thị trường cần. Ta mới hăng hái phát triển thị phần chứ chưa quan tâm đầy đủ đến thị hiếu của thị trường”, ông Hòa nhấn mạnh.

Ông Flavio Corsin, đại diện của Tổ chức Sáng kiến Thương mại bền vững (IDH) cho rằng, ngành chè Việt Nam đang vướng vào một cái vòng lẩn quẩn: số lượng nhà máy chế biến chè tăng nhanh dẫn đến tình trạng thiếu nguyên liệu chế biến nên nguyên liệu sẵn sàng được mua với bất kỳ chất lượng nào. Điều này khiến người dân không muốn cố gắng sản xuất sản phẩm chất lượng tốt hơn nên chất lượng sản phẩm ngày một giảm, đồng nghĩa với đó là thu nhập của nông dân đi xuống, do đó thiếu đầu tư cho mở rộng sản xuất dẫn đến khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế thấp.

Bên cạnh đó, TS. Nguyễn Quốc Vọng – Chuyên gia nông nghiệp (Ban tư vấn dự án QSEAP) còn cho rằng, Việt Nam đang đánh giá chất lượng chè bằng mắt thường và điều này là không chính xác. Chất lượng chè phải được đánh giá bằng máy móc với các con số khoa học cụ thể. Ở Nhật Bản đã sử dụng máy móc hiện đại vào việc đánh giá chất lượng chè, và theo đó chè có điểm AF trên 50 là chè chất lượng cao.

Mặt khác, các chứng chỉ quốc tế về chất lượng nhà máy, nông trường như RA, GMP, GAP, UTZ áp dụng cho các sản phẩm chè tại Việt Nam còn quá ít so với các nước khác trên thế giới. Hơn nữa, mẫu xuất hàng chè Việt Nam kém hơn mẫu chào hàng cả về chất lượng và ngoại hình. Chính những điều này đã làm ảnh hưởng đến uy tín của chè Việt Nam, khiến khách hàng quốc tế e ngại mua bán trực tiếp với các nhà sản xuất Việt Nam thay cho việc mua thông qua các công ty thương mại nước ngoài.

Cần đẩy mạnh liên kết

Trước những thách thức đối với ngành chè nói trên, ông Đoàn Anh Tuân – Chủ tịch Hiệp hội chè Việt Nam cho rằng, việc tái cơ cấu ngành chè phát triển bền vững theo xu hướng thị trường là vấn đề cấp thiết hiện nay.

Mặt khác, ngành chè cần nghiên cứu nắm bắt nhu cầu thị trường để tập trung đẩy mạnh các mặt hàng có giá trị cạnh tranh nhằm xây dựng thương hiệu và tạo ưu thế chiếm lĩnh thị trường.

Bên cạnh đó, ông Đoàn Anh Tuân cũng nhấn mạnh việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất chè từ quy mô nhỏ lẻ, manh mún sang hướng tập trung và có sự quản lý chặt chẽ từ khâu sản xuất đến chế biến và tiêu thụ, đồng thời có sự liên kết ngang giữa nông dân với nông dân và cả sự liên kết dọc giữa nông dân và doanh nghiệp. Đặc biệt, phải đảm bảo về khâu chất lượng và các chỉ số tiêu chuẩn nhằm hướng đến các thị trường khó tính trên toàn quốc.

Còn theo ông Đoàn Xuân Hòa, điều cốt yếu là phải tái cơ cấu ngành chè theo hướng thị trường, phát triển sản xuất chè dựa trên lợi thế từng vùng và có cơ chế hỗ trợ tài chính với người trồng chè và xuất khẩu chè. Cần chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất tập trung, quy mô lớn và ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất chế biến nhưng vẫn đảm bảo các yếu tố phát triển kinh tế, xã hội và môi trường. Chúng ta nên học hỏi kinh nghiệm từ Châu Phi để khuyến khích người dân tự giác trong sản xuất và gắn kết với doanh nghiệp. Ông Hòa còn cho rằng, muốn ngành chè phát triển bền vững nhất thiết phải tiến lên sản xuất hàng hóa và sản xuất có chứng chỉ. Điều này chỉ có thể thành công nếu chúng ta đẩy mạnh cơ giới hóa vào sản xuất, đồng thời tích tụ ruộng đất và đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm, hãy sản xuất cái thị trường cần chứ không phải cái chúng ta có như hiện nay.

Ông C.K.Liew, Chủ tịch Hiệp hội kinh doanh chè Malaysia cũng nhận định, các nhà sản xuất và xuất khẩu Việt Nam cần phải nâng cao tính chuyên nghiệp trong sản xuất và xuất khẩu để hiểu được khách hàng thế giới họ cần gì và mình cần gì để đáp ứng nhu cầu.

“Nếu làm được những điều trên thì chè Việt Nam sẽ bán được giá cao hơn, người nông dân sẽ được hưởng lợi khi bán nguyên liệu với giá cao hơn. Họ sẽ có khả năng đầu tư sâu hơn vào vườn chè và nhà máy, để sản xuất chè có chất lượng tốt tạo thành một chuỗi dây chuyền sản xuất khép kín” ông C.K.Liew chia sẻ.

Nhấn mạnh đến việc sản xuất có chứng chỉ, TS. Nguyễn Quốc Vọng cũng cho rằng, hiện nay, diện tích chè đạt tiêu chuẩn VietGAP vẫn còn thấp. Vì vậy, để cải thiện chất lượng nguồn nguyên liệu thì Nhà nước nên có chính sách khuyến khích nông dân, doanh nghiệp sản xuất theo các mô hình GAP.

TS. Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông nghiệp – nông thôn (IPSARD) cho rằng, khó khăn của ngành chè hiện nay là do quan hệ sản xuất chưa phù hợp. Do đó, cần tổ chức nông dân theo hình thức hợp tác xã hoặc hội sản xuất và gắn kết nông dân với doanh nghiệp để xây dựng một chuỗi ngành hàng chuyên nghiệp.

Đẩy mạnh liên kết giữ nông dân với nông dân, giữa nông dân với doanh nghiệp là một trong những giải pháp được nhiều chuyên gia đề cập đến. Theo bà Hồng, muốn phát triển ngành chè bền vững, cần tổ chức lại ngành với một cơ quan quản lý Trung ương một cách thống nhất và hiệu quả; quy hoạch vùng chè để nâng cao năng suất, chất lượng, tính an toàn của nguyên liệu chè búp tươi; quy hoạch, sắp xếp lại và giảm số lượng nhà máy chế biến, trong đó yêu cầu bắt buộc nhà máy chế biến phải có liên kết với vùng nguyên liệu và phải nghiêm chỉnh áp dụng quy trình thực hành chế biến tốt (GMP). Bên cạnh việc xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu để đẩy mạnh xuất khẩu cũng cần phát triển, thúc đẩy tiêu thụ trong nước vì thực tế đây là thị trường tiềm năng, rộng lớn, sức tiêu thụ mạnh.