Áp dụng Eurepgap trong sản xuất chè

21/03/2016

 Trong những năm gần đây tiêu chuẩn Eurepgap được nhắc đến nhiều trong các lĩnh vực sản xuất rau, quả, thuỷ sản, cà phê. Nhiều thương hiệu được gắn liền với tiêu chuẩn này như cà phê Trung Nguyên, thanh long Bình Thuận, bưởi Năm roi…, nhưng riêng đối với sản phẩm chè thì tiêu chuẩn này chưa được nhắc tới. Đây cũng là một khó khăn chung đối với các sản phẩm chè xuất khẩu của Việt Nam nói chung và của Lâm Đồng nói riêng khi mà sản phẩm chè của Việt Nam thường bị trả về với mức dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt quá mức cho phép, hoặc đơn giản là không vượt qua hàng rào kỹ thuật của các nước nhập khẩu.

Thực trạng sản xuất chè ở Lâm Đồng

Lâm đồng có diện tích trồng chè chiếm khoảng 21% diện tích trồng chè cả nước, chiếm khoảng 27% về sản lượng, trong đó diện tích trồng chè sạch chiếm khoảng 6% tổng diện tích là tỉnh có diện tích chè đứng thứ 2 cả nước. Hiện nay sản phẩm chè của Lâm Đồng đã xuất khẩu qua 21 thị trường, chủ yếu là Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga, Mỹ, các nước Trung Đông và Châu Âu. Tuy nhiên hiệu quả của việc xuất khẩu sản phẩm này còn chưa cao do một số nguyên nhân sau:

- Chất lượng chè thường không ổn định, tiêu chuẩn chất lượng còn chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà nhập khẩu (doanh nghiệp không kiểm soát được chất lượng nguyên liệu đầu vào, 80% nguyên liệu mua trôi nổi trên thị trường, chỉ có khoảng 20% nguyên liệu tự trồng), tiêu chuẩn sản xuất chè chủ yếu là tiêu chuẩn Việt Nam và một số doanh nghiệp sản xuất theo tiêu chuẩn của các nước xuất khẩu như Đài Loan, Nhật Bản, song cũng chưa đáp ứng được đầy đủ.

- Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật thường vượt quá giới hạn cho phép

- Nhà xưởng, thiết bị và công nghệ chế biến vẫn còn lạc hậu (thiết bị thường không đồng bộ, nhà xưởng chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất, chỉ một số doanh nghiệp lớn và có sản phẩm xuất khẩu mới quan tâm đầu tư công nghệ mới và đồng bộ).

- Trình độ quản lý chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất và yêu cầu của thị trường (các doanh nghiệp chủ yếu vẫn sản xuất theo quy mô gia đình, cán bộ chuyên trách cho việc quản lý chất lượng rất hạn chế, nếu có thì chỉ là cán bộ kiêm nhiệm).

- Thương hiệu của các sản phẩm chè Lâm Đồng chưa được biết nhiều, chủ yếu các doanh nghiệp vẫn bán sản phẩm tại thị trường nước ngoài bằng thương hiệu của Ấn Độ, Đài Loan.

- Hầu hết đều không có phòng thử nghiệm về chất lượng sản phẩm, nếu có thì vẫn chỉ dừng lại ở việc kiểm tra cảm quan.

Với những khó khăn trên thì việc kiểm soát nguyên liệu đầu vào vẫn đang là một trong những tồn tại lớn nhất, trong khi yêu cầu về chất lượng và chỉ tiêu an toàn của các nước nhập khẩu ngày càng chặt chẽ. Trung Quốc, Liên minh châu Âu (EU) và Nhật Bản sẽ đều đưa ra những quy định chặt chẽ về tiêu chuẩn dư lượng thuốc trừ sâu trong sản phẩm chè vào 6 tháng cuối năm nay. Việc giám sát hàng hoá nhập khẩu ở EU sẽ bao gồm trên 200 sản phẩm, bắt đầu từ 1/9/2008 tăng so với chỉ 100 sản phẩm hiện nay. Ngoài ra, EU sẽ cấm bán 320 loại thuốc trừ sâu có các thành phần hoá chất trong khu vực đồng Euro, và chỉ cho phép nhập khẩu các sản phẩm chè có dư lượng endosulfan dưới 0,01 mg/kg so với 30 mg/kg trước đây. Nhật Bản sẽ thêm 5 mặt hàng vào danh mục kiểm dịch phosphoric hữu cơ ngoài 10 mặt hàng hiện nay. Ngoài ra, Nhật Bản sẽ thực hiện luật an toàn thực phẩm từ tháng 5/2009, đặt ra những quy định về dư lượng hoá chất với 144 mặt hàng, so với  83 mặt hàng hiện nay.

EUREGAP như là một giải pháp

Nhiều doanh nghiệp đã tìm cho mình giải pháp là áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất của các đối tác nước ngoài, các tiêu chuẩn của thị trường xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ nguồn nguyên liệu bằng cách tự trồng nguyên liệu và ký hợp đồng với người nông dân. Tuy nhiên diện tích này chưa nhiều và chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất, hiện có khoảng 6% tổng diện tích trồng chè sạch trong toàn tỉnh.

Việc áp dụng tiêu chuẩn Eurepgap trong sản xuất cà phê, rau quả đã và đang được chú ý nhiều ở Việt Nam. EUREPGAP là tiêu chuẩn về thực hành sản xuất nông nghiệp tốt của Châu Âu, được ban hành lần đầu tiên vào năm 1997. Tiêu chuẩn này được xây dựng bởi nhóm các nhà bán lẻ thực phẩm Châu Âu trong lĩnh vực kinh doanh bán lẻ các thực phẩm nông nghiệp. EUREPGAP dựa trên các nguyên tắc phân tích và phòng ngừa các mối nguy. Sử dụng các phương pháp trừ sâu bệnh tổng hợp (IPM), quản lý mùa vụ tổng hợp (ICM) để đảm bảo rằng các sản phẩm cung cấp cho người tiêu dùng là an toàn.

EUREPGAP được xây dựng trên 14 tiêu chí, trong đó tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng chính như: quản lý vùng đất trồng, nguồn nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, kỹ thuật chăm sóc và thu hoạch, các yếu tố về môi trường và những chính sách phúc lợi cho người lao động. Toàn thể các hoạt động trong quá trình canh tác chè đều được kiểm soát, từ giống cây trồng đầu vào, đến việc canh tác và cho đến khi là sản phẩm chè búp cung cấp cho nhà máy chế biến, tất cả các khâu này đều được ghi chép và lưu giữ hồ sơ. Như vậy, hoạt động này sẽ giúp người nông dân kiểm soát được những mối nguy, những yếu tố tác hại đối với chất lượng nguyên liệu chè để từ đó có các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát. Đặc biệt là đối với  việc kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Quá trình sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật được xem xét ngay từ khi lựa chọn các sản phẩm sử dụng cho cây chè, những hoá chất này phải nằm trong danh mục cho phép sử dụng của Việt Nam và các thị trường mà doanh nghiệp muốn xuất khẩu. Nguồn gốc các loại hoá chất này đều được xác định thông qua các chứng từ mua hàng, cách sử dụng theo hướng dẫn về liều lượng và thời gian cách ly khi thu hái chè. Do đó, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật luôn đáp ứng được theo quy định của Nhà nước và thị trường.

Có được chứng chỉ về Eurepgap sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao được khả năng cạnh tranh của mình, thâm nhập được vào các thị trường khó tính, vượt qua được hàng rào kỹ thuật và quan trọng nhất là ổn định được chất lượng sản phẩm để giữ vững thương hiệu của mình.

Tuy nhiên để đạt được chứng chỉ Eurepgap thì thật không đơn giản. Khi áp dụng tiêu chuẩn này đòi hỏi các doanh nghiệp phải quy hoạch lại vùng canh tác chè của mình, kiểm tra các mẫu đất, nước và kiểm soát tất cả các hoạt động từ giống chè, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, …. Các hoạt động này đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư vào việc đào tạo cho người lao động về các yêu cầu của tiêu chuẩn, dự toán kinh phí cho việc kiểm tra mẫu, và kinh phí cho hoạt động áp dụng và chứng nhận tiêu chuẩn này.

Với quy mô các doanh nghiệp sản xuất chè của Lâm đồng hiện nay thì việc áp dụng tiêu chuẩn này sẽ hạn chế. Tuy nhiên vì sự sống còn của doanh nghiệp, vì thương hiệu chè B’Lao đã được xây dựng và vì thương hiệu chung của chè Lâm đồng thì các doanh nghiệp sản xuất chè của Lâm Đồng đã đến lúc cần phải quan tâm và thực hiện.

 Phạm Thị Nhâm